
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày về nội dung cơ bản của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)
Tiếp tục Phiên họp thứ 55, chiều 18/3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).
Trình bày về nội dung cơ bản của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi), Thứ trưởng Bộ Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, dự thảo Luật gồm 9 chương 36 điều, giảm 18 điều so với luật hiện hành. Với cách tiếp cận mới trong xây dựng luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW và các quan điểm xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi), thay vì quy định cụ thể các nội dung như tại Luật Thủ đô số 39/2024/QH15, dự thảo Luật tập trung phân quyền cho Thành phố quyết định, tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô; đồng thời tăng cường yêu cầu về kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Dự thảo Luật đã sửa đổi hầu hết các quy định tại Luật Thủ đô số 39/2024/QH15: Các quy định chung, quy định về tổ chức chính quyền, chế độ công vụ; quy hoạch, xây dựng và trật tự, an toàn Thủ đô; phát triển văn hóa - xã hội; phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nguồn lực phát triển Thủ đô; liên kết, phát triển vùng; giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình; điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành. Việc sửa đổi, hoàn thiện thực hiện theo hướng: Khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô; giá trị pháp lý đặc thù, được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô của Luật Thủ đô.
Dự thảo Luật cũng quy định về nguyên tắc áp dụng Luật Thủ đô, trong đó giao HĐND Thành phố có thẩm quyền quyết định việc áp dụng trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn.
Sửa đổi các quy định để bảo đảm Luật chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW, phân cấp, phân quyền tối đa, toàn diện cho chính quyền Thành phố được quy định, quyết định những nội dung thuộc thẩm quyền trong tất cả lĩnh vực nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thành phố Hà Nội; cùng với đó là hoàn thiện các quy định về giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình.
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung các quy định về nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô; bổ sung quy định về thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền Thành phố Hà Nội; Quy định về thí điểm cơ chế, chính sách nhằm xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý và phát triển mới; bổ sung quy định về công dân ưu tú Thủ đô và giao HĐND Thành phố có thẩm quyền quy định về điều kiện, thủ tục tặng, thu hồi danh hiệu này; bổ sung quy định về thu hồi đất để thực hiện các dự án cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội; Quy định về phát triển khu kinh tế tự do, khu thương mại tự do và loại hình kinh tế mới; bổ sung quy định về trách nhiệm giải trình của chính quyền Thành phố. Đồng thời, xác lập cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với người đứng đầu, công chức, viên chức và cá nhân tham gia xây dựng, ban hành, thi hành Luật và các văn bản liên quan, trong trường hợp đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định, thực hiện đúng thẩm quyền, không vụ lợi nhưng vẫn phát sinh thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật Thủ đô (sửa đổi)
Việc phân quyền phải bảo đảm "6 rõ"
Thẩm tra sơ bộ dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, Thường trực Ủy ban và các cơ quan tham gia thẩm tra tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Thủ đô năm 2024 và 5 quan điểm xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi) như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ.
Về việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô trong dự thảo Luật, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp (TTUBPLTP) đề nghị tiếp tục quán triệt yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị trong cách thức quy định các điều khoản trong dự thảo Luật một cách nhất quán. Cụ thể, đối với những nội dung phân quyền cụ thể hoặc liên quan đến nội dung Hiến pháp xác định là phải được quy định bằng luật thì quy định cụ thể thẩm quyền của từng cơ quan trong dự thảo Luật; đối với các nội dung phân quyền chung về cơ chế, chính sách thì quy định khái quát nhưng phải có ràng buộc nhất định về yêu cầu, về kết quả, sản phẩm đạt được và lộ trình cụ thể theo đúng nguyên tắc: Luật trao quyền, cho cơ chế, chính sách và kiểm soát kết quả - Thủ đô chủ động quyết định các biện pháp để tổ chức thực hiện đạt kết quả, hiệu quả cao nhất.
Về một số nội dung cụ thể của dự thảo luật, TTUBPLTP đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu làm rõ phạm vi lĩnh vực được phép ban hành quy định khác với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, chỉ nên giới hạn trong những lĩnh vực gắn với yêu cầu quản trị đô thị đặc thù hoặc cần thử nghiệm chính sách mới; quy định rõ nguyên tắc, điều kiện và quy trình ban hành các văn bản này, bao gồm yêu cầu đánh giá tác động chính sách và tham vấn các cơ quan, tổ chức có liên quan; thiết kế cơ chế áp dụng có thời hạn hoặc theo hình thức thí điểm đối với các quy định khác với quy định chung, kèm theo trách nhiệm báo cáo, giám sát và tổng kết việc thực hiện để kịp thời điều chỉnh khi phát sinh bất cập; xác định rõ đây là cơ chế hết sức đặc thù, chỉ áp dụng riêng cho Thủ đô Hà Nội mà không áp dụng cho các địa phương khác.
Về các nội dung phân quyền cho Thủ đô trong các lĩnh vực, TTUBPLTP và các cơ quan tham gia thẩm tra đề nghị rà soát toàn bộ các quy định về phân quyền trong dự thảo Luật theo các nguyên tắc: Việc phân quyền phải bảo đảm yêu cầu 6 rõ: "Rõ người, rõ việc, rõ quy trình (trách nhiệm), rõ thời gian, rõ sản phẩm (kết quả) và rõ hiệu quả".
Theo tinh thần này, dự thảo Luật cần làm rõ tiêu chí, nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa các chủ thể của chính quyền Thành phố: Loại quyền nào giao cho HĐND, loại quyền nào giao cho UBND; khi nào thì phân quyền cho tập thể UBND và cá nhân Chủ tịch UBND; cơ chế kiểm soát, giám sát trong việc thực hiện các quyền này như thế nào để bảo đảm "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm". Cần có sự phân biệt, làm rõ nội dung nào là giao quyền tự chủ cho Thành phố tự quyết định các nội dung phù hợp với đặc điểm, yêu cầu phát triển đặc thù của Thành phố (được phân quyền trong Luật Thủ đô) và nội dung nào là thí điểm cơ chế, chính sách khác quy định của luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên (Điều 9) để áp dụng trình tự, thủ tục và các yêu cầu, giới hạn cụ thể khác nhau nhằm bảo đảm "rõ việc, rõ quy trình, rõ trách nhiệm"…
AT