Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược, nhất là hạ tầng giao thông, đang trở nên cấp thiết. Không chỉ mở rộng không gian phát triển, kết nối vùng miền và giảm chi phí logistics, hạ tầng giao thông còn là động lực thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Xung quanh nội dung này, Người Đưa Tin (NĐT) đã trao đổi với ông Hồ Minh Hoàng - Chủ tịch Tập đoàn Đèo Cả - doanh nghiệp tư nhân có nhiều kinh nghiệm đầu tư, thi công và vận hành các công trình giao thông trọng điểm quốc gia.
Hạ tầng giao thông phải đi trước một bước
NĐT: Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Theo ông, ngành hạ tầng giao thông cần có chiến lược như thế nào để thực hiện mục tiêu này?
Ông Hồ Minh Hoàng: Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng 2 con số là yêu cầu phát triển rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Để đạt được mục tiêu này, hạ tầng giao thông phải đi trước một bước vì đây không chỉ là điều kiện kết nối đi lại, mà còn mở ra không gian phát triển mới, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo tôi, tăng trưởng không chỉ nhìn vào GDP mà còn phải quan tâm đến GNI - phần giá trị thực sự giữ lại cho nền kinh tế. Vì vậy, Việt Nam cần đầu tư mạnh cho hạ tầng, đồng thời phát triển doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia sâu vào các dự án lớn.

Ông Hồ Minh Hoàng - Chủ tịch Tập đoàn Đèo Cả.
Thực tế, các tuyến cao tốc Bắc - Nam đang dần hình thành các hành lang kinh tế kết nối cảng biển, sân bay, cửa khẩu và các cực tăng trưởng. Các dự án như Bắc Giang - Lạng Sơn, Hữu Nghị - Chi Lăng hay Đồng Đăng - Trà Lĩnh không chỉ tăng kết nối vùng mà còn mở rộng giao thương quốc tế.
Với Đèo Cả, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận chủ động hơn, mà chúng tôi gọi là PPP++. Tức là không chỉ dừng ở mô hình hợp tác công - tư truyền thống, mà kết nối chặt chẽ hơn các khâu từ đầu tư, thi công đến quản lý vận hành, đào tạo nhân lực, đồng thời nâng cao vai trò vốn chủ và gắn trách nhiệm rõ ràng hơn cho từng chủ thể tham gia dự án.
NĐT: Chính phủ thời gian qua liên tục có các chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho các dự án BOT, PPP giao thông. Ông nhìn nhận như thế nào về quyết tâm này?
Ông Hồ Minh Hoàng: Tôi cho rằng thời gian qua Chính phủ đã có những bước tháo gỡ rất đáng ghi nhận. Điểm tích cực là các vướng mắc của BOT, PPP đã bắt đầu được xử lý bằng cơ chế pháp lý cụ thể hơn, thay vì chỉ dừng ở chủ trương chung.
Ví dụ rất rõ là Dự án cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn. Trước đây, dự án gặp khó khăn lớn khi doanh thu bị sụt giảm do thay đổi phương án thu phí, trong khi vốn ngân sách Nhà nước không tham gia vào cấu trúc tài chính ban đầu. Trong bối cảnh đó, việc ban hành Nghị định 122/2026 của Chính phủ rất quan trọng, vì đã tạo cơ sở pháp lý mới để xử lý các dự án BOT giao thông vướng mắc, qua đó củng cố niềm tin cho doanh nghiệp đầu tư.
Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay không còn nằm chủ yếu ở chính sách, mà ở khâu tổ chức thực hiện. Có cơ chế rồi, nhưng nếu triển khai chậm, thiếu đầu mối rõ ràng, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa bộ, ngành, địa phương và tổ chức tín dụng, thì hiệu quả tháo gỡ sẽ chưa phát huy hết.
Một vấn đề khác cần nói rõ là tín dụng. Dù pháp lý cho BOT, PPP đã có bước hoàn thiện, nhưng sự thận trọng của các tổ chức tín dụng đối với các dự án hạ tầng vẫn còn khá lớn. Theo tôi, pháp lý có thể đã "mở", nhưng nếu tín dụng vẫn "khép", thì dự án vẫn không thể chạy nhanh trên thực địa.
Doanh nghiệp tham gia, đề xuất, chịu trách nhiệm
NĐT: Theo ông, cần làm gì để doanh nghiệp hạ tầng trong nước đủ sức làm những việc lớn trong giai đoạn tới?
Ông Hồ Minh Hoàng: Theo tôi, có 3 việc phải làm. Thứ nhất là giao việc đúng năng lực. Khi Nhà nước đã có quy hoạch mạng lưới giao thông và xác định dự án trọng điểm, thì doanh nghiệp hạ tầng trong nước cần được trao cơ hội tham gia nghiên cứu ngay từ bước tiền khả thi. Làm như vậy, doanh nghiệp mới có điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo trong đề xuất phương án đầu tư, giải pháp kỹ thuật, tổ chức thi công, kiểm soát chi phí và chất lượng sản phẩm.

Công nhân thi công cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh.
Thứ hai là gỡ các điểm nghẽn về nguồn lực, nhất là nhân lực, vật liệu và tín dụng. Nếu doanh nghiệp hạ tầng không giữ được người, không tiếp cận được vốn trung dài hạn, không chủ động được vật liệu, thì rất khó phát triển bền vững.
Thứ ba là gắn giao việc với chuyển giao công nghệ và đào tạo con người. Đèo Cả là một ví dụ. Khi được trao cơ hội đầu tư và thi công các hầm Đèo Cả, Cù Mông, Hải Vân, chúng tôi từng bước hình thành năng lực khoan hầm đá bằng công nghệ NATM theo "hệ Đèo Cả".
Với công nghệ mới như TBM, chúng tôi đã chủ động cho cán bộ, kỹ sư đi học, đi làm thực tế ở Thâm Quyến, Trung Quốc. Nhưng để công nghệ mới trở thành năng lực thật, doanh nghiệp phải được trao cơ hội thực hiện dự án.
Một ví dụ khác là cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh. Theo quy hoạch ban đầu, dự án từng ở mặt bằng tổng mức đầu tư hơn 47.000 tỷ đồng. Nhưng sau khi doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình nghiên cứu, đề xuất phương án, tối ưu hướng tuyến, phân kỳ đầu tư và lựa chọn giải pháp kỹ thuật phù hợp, quy mô vốn đã được đưa về mặt bằng hơn 20.000 tỷ đồng ở các phương án, giai đoạn triển khai.
Tôi cho rằng, đây là minh chứng rất rõ cho thấy khi doanh nghiệp được tham gia từ đầu, được chủ động đề xuất và chịu trách nhiệm về giải pháp, thì hoàn toàn có thể kiểm soát tốt chi phí mà vẫn bảo đảm mục tiêu đầu tư.
Nguyễn Lâm